(Xây dựng) - Không chỉ gia tăng thêm mức phạt, mà quy định mới cũng đã góp phần xác định cụ thể trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc xử lý vi phạm trật tự xây dựng.
|
Theo Thông tư số 02/2014/TT-BXD quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, kinh doanh BĐS; Khai thác, sản xuất, kinh doanh VLXD; Quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; Quản lý phát triển nhà và công sở thì, quy định việc xử lý công trình xây dựng gây lún, nứt, hư hỏng công trình lân cận, có nguy cơ làm sụp đổ hoặc gây sụp đổ công trình lân cận được quy định rất chi tiết. Trong đó, Thông tư đã quy định các tổ chức, cá nhân có hành vi tổ chức thi công xây dựng vi phạm quy định về xây dựng gây lún, nứt, hư hỏng công trình lân cận (bao gồm cả công trình hạ tầng kỹ thuật); Có nguy cơ làm sụp đổ hoặc gây sụp đổ công trình lân cận thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 và 4 Điều 13; khoản 2 và 5 Điều 27 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP. Đồng thời cũng sẽ bị ngừng thi công xây dựng để bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP theo trình tự, thủ tục quy định. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 9 Điều 13 của Nghị định 121/2013/NĐ-CP thì đối với những hành vi xây dựng sai phép (đối với cả trường hợp sửa chữa, cải tạo và xây dựng mới), không phép mà không vi phạm chỉ giới xây dựng, không gây ảnh hưởng các công trình lân cận, không có tranh chấp, xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được bằng 40% giá trị phần xây dựng sai phép. Những công trình xây dựng không phép đối với công trình là nhà ở riêng lẻ và bằng 50% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế được phê duyệt hoặc sai quy hoạch xây dựng hoặc thiết kế đô thị được duyệt đối với công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng hoặc công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình. Từ trước đến nay thuật ngữ “phạt cho tồn tại” đã thành một tiền lệ không hay và tạo dư luận một thời gian dài. Theo những quy định mới thì việc làm này đã bị “hạn chế”. Ngoài ra, quy định cũng đã “tăng liều” cho những hoạt động vi phạm trật tự xây dựng. Cụ thể, nếu tổ chức, cá nhân có hành vi tổ chức thi công xây dựng vi phạm quy định về xây dựng gây lún, nứt, hư hỏng công trình lân cận sẽ bị xử phạt theo khoản 2, Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP như: Nhà xây ở nông thôn là 500 nghìn đồng đến 1 triệu đồng; nhà riêng lẻ đô thị 3 - 5 triệu đồng; công trình thuộc trường hợp phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình hoặc lập dự án đầu tư xây dựng công trình bị phạt từ 15 - 20 triệu đồng. Trong trường hợp DN, tổ chức thi công xây dựng công trình vi phạm công tác quản lý chất lượng công trình gây sụp đổ hoặc có nguy cơ gây sụp đổ công trình lân cận mà không gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người khác sẽ bị phạt 3 - 5 triệu đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, 15 - 20 triệu đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị và phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với xây dựng công trình thuộc trường hợp phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình hoặc lập dự án đầu tư xây dựng công trình. Đối với những vi phạm về trật tự xây dựng ở nông thôn, sau khi biên bản vi phạm hành chính được lập, nếu bên vi phạm và bên bị thiệt hại không tự thỏa thuận được và một bên có đơn yêu cầu thì Chủ tịch UBND cấp xã chủ trì việc thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại giữa bên vi phạm và bên bị thiệt hại. Hết thời hạn 7 ngày kể từ ngày thỏa thuận lần đầu không thành hoặc bên bị thiệt hại vắng mặt tại buổi thỏa thuận lần đầu mà không có lý do chính đáng, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức thỏa thuận lần 2. Tại buổi thỏa thuận lần 2 mà bên bị thiệt hại tiếp tục vắng mặt không có lý do chính đáng thì bên vi phạm được tiếp tục thi công xây dựng sau khi chuyển khoản tiền tương đương mức thiệt hại gây ra vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng. Chủ tịch UBND cấp xã quyết định mức tiền bảo lãnh căn cứ vào yêu cầu của bên bị thiệt hại, có xem xét đến đề nghị, giải trình của bên vi phạm. Trong trường hợp thỏa thuận lần hai không thành, hai bên thống nhất mời một tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân để xác định mức độ thiệt hại làm cơ sở bồi thường. Trong thời hạn 7 ngày mà hai bên không thống nhất được việc mời tổ chức để giám định, Chủ tịch UBND cấp xã quyết định mời một tổ chức để giám định, chi phí do bên vi phạm chi trả. Thông tư 02/2014/TT-BXD sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 02/4/2014. Bởi vậy, đối với các trường hợp áp dụng chuyển tiếp theo quy định tại Điều 70 Nghị định 121/2013/NĐ-CP, Bộ Xây dựng quy định rõ: Đối với hành vi vi phạm hành chính được phát hiện, lập biên bản và ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế phá dỡ trước ngày Nghị định 121/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành nhưng đến ngày Nghị định này có hiệu lực mà chưa thi hành và còn trong thời hạn thi hành thì tiếp tục thi hành. Hành vi vi phạm hành chính xảy ra trước ngày Nghị định 121/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành mà sau ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mới bị phát hiện hoặc phát hiện trước đó nhưng chưa ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và còn thời hạn ban hành quyết định xử phạt, nếu áp dụng Nghị định 121/2013/NĐ-CP có lợi cho tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm đó thì áp dụng Nghị định 121/2013/NĐ-CP. Vũ Chiến |